
Thời gian qua cụm từ “Y tế thông minh” được nhắc đến nhiều, thực tế đây cách gọi tắt cho việc ứng dụng CNTTnhằm cải tiến phương thức quản lý, lấy người bệnh làm trung tâm, giúp người bệnh được quyền lựa chọn bệnh viện, dễ dàng truy cập thông tin sức khỏe, khám bệnh từ xa, hồ sơ bệnh án điện tử được kết nối nên người dân có thể dễ dàng tra cứu, cải tiến quy trình phác đồ, kê đơn, nhắc người bệnh tái khám, tiêm chủng và giảm thiểu tai biến y khoa.
“Y tế thông minh” được triển khai chính người bệnh cũng được hưởng lợi khi ở nhà có thể gửi tin nhắn để đặt lịch khám, lấy số khám; những ca bệnh khó ở địa phương vùng sâu, vùng xa được hội chẩn cùng các chuyên gia tuyến trên để có biện pháp xử lý kịp thời…
Tại hội nghị trực tuyến đánh giá kết quả thực hiện tin học hóa trong quản lý KCB và thanh toán BHYT năm 2016, xây dựng kế hoạch năm 2017 do Bộ Y tế tổ chức mới đây. Thứ trưởng Y tế Phạm Lê Tuấn cho biết, trong năm 2016, công tác tin học hóa KCB và thanh toán BHYT đã đạt được một số kết quả nổi bật. Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã xây dựng và ban hành mô hình kiến trúc tổng thể về hệ thống thông tin KCB và thanh toán chi phí KCB BHYT theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ, làm cơ sở để triển khai các hoạt động về tin học hóa trong BHYT một cách khoa học và có kế hoạch.
Các sở y tế, cơ sở KCB tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đồng hành với Bộ Y tế và tích cực thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng CNTT trong quản lý KCB. Theo thống kê cả nước hiện có 12.719 cơ sở KCB ký hợp đồng KCB BHYT với cơ quan bảo hiểm xã hội…
Đến giữa tháng 12/ 2016, đã có 12.653 cơ sở KCB thực hiện kết nối liên thông dữ liệu, đạt tỷ lệ 99,48%.
Đáng chú ý, những năm gần đây, nhờ ứng dụng CNTT, Bộ Y tế đã chỉ đạo một số bệnh viện tuyến trung ương triển khai Telemedicine, hỗ trợ các bệnh viện vệ tinh ở tuyến tỉnh, tuyến huyện bước đầu có kết quả rất tốt. Các bệnh viện đầu ngành, tuyến cuối như: Bạch Mai, Hữu nghị, Việt Đức, Nhi T.Ư, Phụ sản T.Ư, Chợ Rẫy… thường xuyên hội chẩn trong khám, chữa bệnh với các bệnh viện tuyến tỉnh, góp phần nâng cao hiệu quả cấp cứu, phẫu thuật.
Hệ thống Telemedicine đi vào hoạt động góp phần xử lý kịp thời các ca bệnh khó, các tình huống bệnh nguy kịch, hiểm nghèo cần xử lý gấp ở bệnh viện tuyến dưới mà không kịp chuyển lên bệnh viện tuyến trên, nhất là tại các bệnh viện vùng biên giới, hải đảo, nằm cách xa trung tâm như Bạch Long Vĩ, Cô Tô... Người bệnh ở những bệnh viện tuyến huyện vẫn có thể được các giáo sư, bác sĩ giỏi đầu ngành từ các bệnh viện hàng đầu tuyến trung ương, các thầy thuốc tại tuyến tỉnh tư vấn, hội chẩn, khám, chữa bệnh từ xa.
Người bệnh và gia đình không phải mất thêm nhiều chi phí cho việc đi lại, ăn ở khi phải chuyển viện lên tuyến trên; đồng thời góp phần giải quyết tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến trên… Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Y tế, khó khăn chung trong ứng dụng CNTT của ngành y tế hiện nay là hạ tầng của ngành y tế còn nhiều yếu kém; chưa có trung tâm dữ liệu y tế quốc gia; chưa có hệ thống đường truyền kết nối ngành y tế; nhiều dịch vụ kèm theo chưa có…
Do đó, nhiều ý kiến cho rằng Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần tiếp tục phối hợp để triển khai thống nhất, đồng bộ KCB BHYT điện tử theo lộ trình đã được đề ra; thống nhất chuẩn đầu ra dữ liệu, đồng bộ danh mục dùng chung với hệ thống thông tin KCB BHYT của Bộ Y tế để cùng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đang tồn tại…
Hiện Bộ Y tế đang khẩn trương xây dựng Thông tư quy định việc ứng dụng CNTT trong y tế từ xa, xây dựng các gói dịch vụ CNTT cơ bản ứng dụng trong y tế và đề xuất với các cơ quan liên quan việc xây dựng cơ chế tài chính, cách thức chi trả, trách nhiệm chi trả của các bên liên quan khi tham gia hội chẩn khám, chữa bệnh từ xa.
Với mục tiêu đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện, trong thời gian tới, Bộ Y tế tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện.
Chú trọng xây dựng các cơ chế tài chính phù hợp cho việc ứng dụng CNTT trong y tế. Xây dựng các chuẩn ngành, chuẩn bệnh án điện tử, hồ sơ sức khỏe điện tử, y bạ điện tử (EHR, EMR, PHR) và ứng dụng rộng khắp tại các cở sở y tế trên cả nước. Trong đó đặc biệt chú ý xây dựng Hồ sơ y tế điện tử; Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giám định, thanh toán Bảo hiểm y tế (BHYT); Xây dựng hệ thống lưu trữ, xử lý và truyền tải hình ảnh y khoa – PACS, cơ sở dữ liệu hồ sơ sức khỏe điện tử, Y bạ điện tử quốc gia,…
Đảm bảo dữ liệu, thông tin về tình trạng người bệnh được ghi trong hồ sơ y tế phải tuân theo chuẩn, có thể trao đổi và lưu trữ các thông tin phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe. Người bệnh và cán bộ Y tế khi được cấp phép có thể truy cập vào hồ sơ y tế bất kỳ lúc nào, bất cứ ở đâu. Triển khai mô hình quản lý bệnh viện tiên tiến ở các bệnh viện nhằm khai thác tối đa nguồn lực y tế hiện có, cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh phù hợp, dễ dàng mở rộng quy mô hoạt động, duy trì chất lượng dịch vụ đồng đều. Hoàn thiện việc liên thông, kết nối phần mềm QLBV với thanh toán BHYT, giám định BHYT…
Ánh Dương







Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu