Mới đây, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam vừa có Công văn số 3762/BHXH-CSXH gửi BHXH các địa phương về việc thực hiện tạm dừng hoặc tiếp tục chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng đối với các đối tượng bị phạt tù giam.
Theo BHXH Việt Nam, thời gian qua cơ quan BHXH một số tỉnh thành đã có báo cáo về vấn đề trên. Theo các địa phương, việc tạm dừng, tiếp tục chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng đối với các trường hợp chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo (tù giam) theo bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 1/1/2016 trở đi còn có cách hiểu khác nhau nên việc thực hiện chưa thống nhất. Do đó BHXH Việt Nam đã xin ý kiến Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH) và Toàn án nhân dân (TAND) Tối cao.

Người chấp hành án là người bị kết tội và phải chịu hình phạt theo bản án đã có hiệu lực pháp luật. Ảnh: Interet
Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có công văn trả lời BHXH Việt Nam như sau:
Theo Khoản 1, điều 3 Luật Thi Hành án hình sự: "Người chấp hành án là người bị kết tội và phải chịu hình phạt theo bản án đã có hiệu lực pháp luật".
Khoản 1, điều 62 Luật BHXH năm 2006 quy định: "Người lao động đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng bị tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng khi chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo".
Do đó, thời điểm tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng là thời điểm người đó bị kết tội theo bản án đã có hiệu lực pháp luật.
[presscloud]https://media.baosuckhoecongdong.vn/mediav2/upload/video/2019/10/09/1_09102019162647.mp4[/presscloud]
Từ 1/1/2020 phạm nhân được tham gia BHXH tự nguyện
Còn Công văn trả lời của TAND Tối cao cho rằng, theo quy định tại Khoản 2, điều 123 Luật BHXH năm 2014 và điều 20 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc thì: "...Người đang bị dừng hưởng BHXH trước ngày 1/1/2016 thì việc giải quyết tiếp tục hưởng BHXH mới áp dụng quy định của Luật BHXH năm 2006". Theo đó, những người "chưa bị dừng" hưởng BHXH trước ngày 1/1/2016 thì được áp dụng chế độ hưởng BHXH theo Luật BHXH năm 2014. "Người đang bị dừng" hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng tại điều 62 Luật BHXH năm 2006 được xác định là người chấp hành án.
Theo quy định tại Khoản 1, điều 3 Luật Thi Hành án hình sự thì "Người chấp hành án là người bị kết tội và phải chịu hình phạt theo bản án đã có hiệu lực pháp luật". Do đó, thời điểm xác định tạm dừng hưởng lương hưu, BHXH hằng tháng được xác định từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Do đó trường hợp người bị chấp hành hình phạt tù không được hưởng án treo mà bản án, quyết định có hiệu lực sau ngày 1/1/2016 thì chế độ BHXH của họ áp dụng theo điều 64 Luật BHXH năm 2014.
Như vậy, dựa theo phúc đáp của Bộ LĐ-TB-XH và TAND Tối cao thì "Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng bị phạt tù giam theo bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 1/1/2016 trở đi thì sẽ không bị tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng theo Luật BHXH 2014".
BHXH Việt Nam yêu cầu Giám đốc BHXH các địa phương kiểm tra, rà soát lại để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật về việc thực hiện tạm dừng, tiếp tục chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng từ ngày 1/1/2016 trở đi.
Luật BHXH 2014 - Luật số 58/2014/QH13 Điều 64. Tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng 1. Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng bị tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Xuất cảnh trái phép. b) Bị Tòa án tuyên bố là mất tích. c) Có căn cứ xác định việc hưởng BHXH không đúng quy định của pháp luật. 2. Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng được tiếp tục thực hiện khi người xuất cảnh trở về định cư hợp pháp theo quy định của pháp luật về cư trú. Trường hợp có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích thì ngoài việc tiếp tục được hưởng lương hưu, trợ cấp còn được truy lĩnh tiền lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng kể từ thời điểmdừng hưởng. 3. Cơ quan bảo hiểm xã hội khi quyết định tạm dừng hưởng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tạm dừng hưởng, cơ quan bảo hiểm xã hội phải ra quyết định giải quyết hưởng; trường hợp quyết định chấm dứt hưởng bảo hiểm xã hội thì phải nêu rõ lý do. |
Kiều Đỗ (t/h)







Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu