Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789 ghi dấu ấn đậm nét của anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ. Ông đã chỉ huy một cuộc hành quân độc đáo đến mức cho đến ngày nay, nhiều chuyên gia về lịch sử vẫn chưa thể đưa ra một lời giải thích thực sự thuyết phục.
Cụ thể, theo kế hoạch đã được thống nhất từ trước, sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), hơn 100 voi chiến của quân đội Tây Sơn đã xông thẳng vào đồn Ngọc Hồi. Lần đầu tiên, Quang Trung – Nguyễn Huệ buộc đại bác lên lưng voi, biến chúng thành “những cỗ xe tăng sống”. Ngoài đại bác, đội tượng binh khi ấy còn được trang bị thêm hỏa hổ, súng tay, giáo mác, cung nỏ…

Voi chiến quân Tây Sơn - nỗi khiếp sợ của giặc ngoại xâm phương Bắc
Cuộc hành quân đặc biệt bậc nhất trong lịch sử
Có ý kiến cho rằng, trên thực tế, vua Quang Trung đã giấu kín một đội quân tinh nhuệ ở Ninh Bình, sau đó thực hiện cuộc hành quân nghi binh từ Phú Xuân ra Bắc. Theo một giả thuyết khác, quân Tây Sơn thực chất đã di chuyển bằng thuyền chứ không phải đường bộ.
Sách “Lê triều dã sử” cũng như nhiều nhà sử học khác lại đưa ra nhận định, sở dĩ quân Tây Sơn hành quân nhanh chóng như vậy là vì Nguyễn Huệ đã bố trí 3 người một tốp, 2 người cáng, một người nghỉ rồi cứ thế thay phiên nhau đi suốt đêm. Theo đó, quân Tây Sơn đan cáng bằng tre, nứa. Khi đến những khúc sông, họ lấy cáng ra làm thuyền thúng. Đây đồng thời chính là giả thuyết được nhiều nhà sử học sử dụng để giải thích về cuộc hành quân thần tốc của vua Quang Trung.
Tuy nhiên, đến nay, tất cả giả thuyết kể trên đều được đánh giá là những giả thuyết chưa hoàn toàn thuyết phục, kể cả giả thuyết dùng võng khiêng. Bởi lẽ, kể từ khi Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế vào ngày 22/12/1788 (tức ngày 25/11 Âm lịch) đến khi tiêu diệt toàn bộ quân Thanh, nghĩa quân Tây Sơn hành quân và đánh giặc chỉ trong 40 ngày.

Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa có dấu ấn rất lớn của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ
Theo tính toán của một số nhà nghiên cứu đến từ Viện Sử học, trong khoảng thời gian đó, trung bình mỗi ngày, 100.000 quân Tây Sơn cùng 300 thớt voi phải đi được khoảng 48 km, tức là họ đã phải di chuyển liên tục không có ngày nghỉ. Thời điểm đó, từ Huế ra Thăng Long chỉ có hai tuyến đường chính gồm Lai Kinh (gần trùng với quốc lộ 1A hiện nay) và Thượng Đạo, men theo đồi núi trung du phía Tây. Tuyến Lai Kinh ngắn hơn, nhưng là đường đất và xuất hiện nhiều sông hồ, đầm lầy vậy nên hàng chục nghìn quân, voi khó đi với tốc độ 40-45km/ngày. Qua đó, các nhà sử học nhận định đại quân, voi và phương tiện chiến tranh không thể vận hành theo tuyến Lai Kinh.
Nhiều sử gia sau đó đã đồng ý với quan điểm nghĩa quân Tây Sơn hành quân theo đường Thượng Đạo. Tuyến đường này dài hơn một chút so với Lai Kinh, nhưng phần lớn là địa hình đồi núi trung du, chỉ cần vượt qua sông đầu nguồn và những con suối cạn. Tuyến này cũng chỉ có vài ba con sông lớn như sông Lam, sông Mã… Với tuyến Thượng Đạo, vấn đề qua sông suối dễ dàng, voi cũng có thức ăn như chuối rừng hay cỏ. Điều quan trọng hơn cả là quân địch không thể phát hiện sự động binh của vua Quang Trung ra Bắc.
Giả thuyết được đưa ra là như vậy, nhưng đại quân làm sao có thể thực hiện được cuộc hành quân không tưởng như thế, khi mọi chỉ số đưa ra đều vượt quá giới hạn sinh học của con người vào thời điểm đó? Đây rõ ràng là một bí mật sẽ còn phải mất rất nhiều thời gian nữa mới có lời giải. PGS.TS Hà Mạnh Khoa của Viện Sử học đã nhận xét, đây là cuộc hành quân thần tốc nhất, là một trong những kỳ tích về hành quân và tổ chức đánh giặc trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Chiến thắng vĩ đại đó, chắc chắn không thể tách rời khỏi sự lãnh đạo và tổ chức tài tình của vua Quang Trung.
“Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn”
Để đối phó với tượng binh, Đề đốc Hứa Thế Thanh đã ra lệnh cho đội kỵ binh hùng mạnh nhất ra nghênh chiến. Vừa nhìn thấy đội quân voi thiện chiến, ngựa chiến quân Thanh hí lên những tiếng kinh hoàng rồi quay đầu bỏ chạy, dẫm đạp lên chính quân lính của Tôn Sĩ Nghị. Kỵ binh thất trận, quân Thanh tiếp tục chui vào đồn trú, dốc toàn lực nã đại bác vào quân Tây Sơn. Đợt tấn công thứ nhất kết thúc với lợi thế thuộc về đội quân xâm lược phương Bắc. Tuy nhiên, ngay sau đó, Nguyễn Huệ đã tổ chức đợt tấn công thứ hai với voi chiến đóng vai trò mở đường.
Theo “Hoàng Lê nhất thống chí”, quân Tây Sơn đã chia thành từng tốp 30 người, 10 người giắt đoản đao bên hông, cùng nhau khiêng một tấm bảng lớn, phía trước có sử dụng rơm trộn bùn chặn tên của địch còn 20 người núp sau tấm ván che, cùng nhất tề tiến lên. Theo các tài liệu lịch sử, số quân cảm tử này có khoảng 600 người, chia thành 20 tốp. Ở bên kia chiến tuyến, quân Thanh liên tục bắn đại bác, phun hỏa mù. Khung cảnh lúc bấy giờ được mô tả là “khói lửa mù trời, gần nhau trong tấc gang mà chẳng thấy gì cả”.
Tiến ngay sau đội voi chiến và quân cảm tử, đại binh Tây Sơn tiến vào như thác lũ. Những tấm bia lớn bằng rơm được dùng để đỡ đạn, kẻ trước người sau liều chết xông lên. Đại binh đánh thẳng vào dinh trại của kẻ địch. Số quân Thanh sống sót trong trận Ngọc Hồi cố chạy về Thăng Long, nhưng đến Thường Tín (Hà Nội) lại bị quân Tây Sơn lao ra đánh, tổn thất rất nặng. Dù nhà Nguyễn căm thù quân Tây Sơn, sau này, sử gia của họ vẫn phải thừa nhận “đồn Ngọc Hồi tan tành, quân địch chết chồng chất lên nhau”. Cả đề đốc Hứa Thế Hanh cùng Tổng binh Thượng Duy Thăng của quân địch tử vong tại trận.

Cuộc hành quân vào sáng mùng 5 Tết năm ấy đã trở thành một trang sử vẻ vang của dân tộc
Sau Thường Tín đến Thanh Trì, quân giặc tiếp tục bị đội quân của Đô đốc Bảo đánh cho tan nát. Toàn bộ quân chạy đến Đầm Mực thì bị giết hoặc bắt sống. Thế là, chỉ trong vòng một buổi sáng ngày mùng 5 Tết, quân Tây Sơn đã đánh tan đồn Ngọc Hồi, nhanh chóng tiến vào Thăng Long, sào huyệt cuối cùng của Tôn Sĩ Nghị. Khi bị bao vây, để thoát thân, Tôn Sĩ Nghị đã chặt đứt cầu phao, mặc cho quân lính của mình chết đuối. Theo ghi chép của các giáo sĩ phương Tây, trong số hơn 200.000 quân Thanh sang nước ta xâm lược, chỉ còn vài trăm người có thể chạy thoát về nước.
Trước đó, cuối năm 1788, chớp lấy cơ hội là khẩn cầu của Lê Chiêu Thống, Hoàng đế Càn Long của nhà Thanh đã phái Tổng đốc Lưỡng Quảng là Ngô Sĩ Nghị mang theo 290.000 quân sang xâm lược nước ta với sự dẫn đường của một bè lũ bán nước dưới quyền Lê Chiêu Thống. Trong suốt khoảng thời gian đóng quân ở nước ta, đội quân xâm lược đông đảo đã tự đắc, ăn chơi phè phỡn, khinh thường người Việt, kết cục đã bị vua Quang Trung đánh cho tan tác. Mô tả về hình ảnh quân Thanh và ông vua bán nước Lê Chiêu Thống lúc bấy giờ, Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toát viết rằng: “Vua Lê khi ấy vội vàng/Cùng Tôn Sĩ Nghị sang đàng Bắc Kinh/Qua sông lại sợ truy binh/Cầu phao chặt đứt quân mình thác oan.”







Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu