
Nghị quyết 71-NQ/TW khẳng định giáo dục đào tạo không chỉ là quốc sách quan trọng hàng đầu, mà còn là nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc
Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Trong nhiều năm qua, giáo dục Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Tỷ lệ trẻ em đi học tiểu học đạt trên 99%, phổ cập trung học cơ sở được duy trì vững chắc, tỷ lệ nhập học bậc đại học tăng đều qua các năm. Theo báo cáo Phát triển con người của Liên Hợp Quốc cho thấy, Năm 2024, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) cao nhất trong số các nước đang phát triển, một phần nhờ những tiến bộ về giáo dục. Đây là nền tảng khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu”.
Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực vẫn là những khoảng trống đáng lo ngại. Theo số liệu của Bộ Y tế, trong năm 2024 có tới 25% học sinh, sinh viên đang gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần, lo âu đến stress học đường. Các nghiên cứu cũng cho thấy, mỗi năm có khoảng 3–5% học sinh phải bỏ học vì áp lực tinh thần hoặc hoàn cảnh gia đình, gây ra những tổn thất lớn về nhân lực tương lai.

PGS.TS Trần Thành Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Theo PGS.TS Trần Thành Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định: “Một môi trường giáo dục tiêu cực, đòi hỏi cao, bắt nạt và thiếu sự hỗ trợ có thể góp phần gây ra căng thẳng, lo âu và các vấn đề sức khỏe tâm thần khác ở học sinh. Học sinh đang phải vật lộn với các vấn đề sức khỏe tâm thần có thể gặp khó khăn trong học tập, dẫn đến cảm giác bất lực và lòng tự trọng thấp, làm trầm trọng thêm các vấn đề sức khỏe tâm thần.”
Trong khi đó, tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn phổ biến, chiếm 18,7% trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, tỷ lệ này vượt ngưỡng 25%. Ngược lại, tại các đô thị lớn, thừa cân – béo phì ở học sinh tiểu học đã tăng nhanh, đạt gần 20%, tạo nên “gánh nặng kép” về dinh dưỡng và sức khỏe học đường.
Không chỉ có vậy, khoảng cách tiếp cận giáo dục giữa thành thị và nông thôn cũng là một thực tế khó phủ nhận. Tại nhiều địa phương miền núi, chỉ 30–40% học sinh được học hai buổi/ngày, trong khi ở thành thị con số này đạt 60–70%. Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, hạ tầng công nghệ còn bất bình đẳng rõ rệt. Điều đó khiến chất lượng giáo dục giữa các vùng miền bị phân hóa, đe dọa cơ hội phát triển công bằng cho thế hệ trẻ.

Ông Nguyễn Hồng Quân – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Hội Giáo dục chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Việt Nam
Nhận định về vấn đề bất bình đẳng này, Ông Nguyễn Hồng Quân, Chủ tịch Hội Giáo dục chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Việt Nam cho rằng: “Hiện nay, khoảng cách giáo dục giữa thành thị và miền núi vẫn lớn. Học sinh vùng cao chủ yếu chỉ học một buổi/ngày do thiếu trường lớp, giáo viên, trong khi ở thành phố tỷ lệ học hai buổi/ngày cao gấp đôi. Sự bất bình đẳng này hạn chế cơ hội của trẻ em vùng khó khăn và có nguy cơ gia tăng khoảng cách xã hội, đòi hỏi chính sách giáo dục – y tế cùng vào cuộc để khắc phục.”

Bà Nguyễn Thị Mai Hoa, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội
Cùng chia sẻ này, bà Nguyễn Thị Mai Hoa, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội thẳng thắn nhìn nhận: “Nếu chúng ta chỉ nhìn vào tỷ lệ đến trường mà bỏ qua chất lượng giáo dục và sức khỏe học đường, thì những con số đẹp cũng chưa đủ nói lên một nền giáo dục phát triển toàn diện.”
Trong bối cảnh ấy, sự ra đời của Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 do Bộ Chính trị ban hành, được xem là bước đi mang tính đột phá và căn cơ. Văn kiện này không chỉ thay đổi cách nhìn về giáo dục – từ “dạy chữ” sang “nuôi dưỡng con người toàn diện” – mà còn nhằm khắc phục những hạn chế kéo dài, đồng thời kiến tạo một nền giáo dục công bằng và toàn diện.
Ba trụ cột đột phá của Nghị quyết 71
Nếu coi Nghị quyết 71 là “chiếc chìa khóa” mở ra một mô hình giáo dục toàn diện thì ba trụ cột đột phá của văn kiện này đã mở ra một hướng đi mới cho giáo dục Việt Nam.
Trước hết, lần đầu tiên giáo dục được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, gắn trực tiếp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là bước chuyển tư duy rất quan trọng, bởi giáo dục không còn bị nhìn nhận như một lĩnh vực “tiêu dùng ngân sách” mà là “nguồn vốn xã hội lâu dài”, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bà Nguyễn Thị Mai Hoa, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội phân tích: “Đặt giáo dục ở trung tâm chiến lược phát triển chính là đặt con người ở trung tâm. Không có nguồn nhân lực chất lượng cao, mọi kế hoạch công nghiệp hóa hay hội nhập đều chỉ dừng lại trên giấy. Đây là mấu chốt quan trọng, tạo động lực, tháo gỡ điểm nghẽn, khắc phục bất cập về cơ chế, chính sách đối với giáo dục và đào tạo.”
Thứ hai, chủ trương thống nhất một bộ sách giáo khoa toàn quốc nhưng đồng thời trao quyền cho địa phương bổ sung nội dung đặc thù là một đột phá về phương thức quản lý. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận tri thức, vừa giữ được sự đa dạng và bản sắc vùng miền. Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, việc để các nhà xuất bản cùng cạnh tranh biên soạn sách giáo khoa đã nảy sinh không ít bất cập: phụ huynh chịu gánh nặng lựa chọn, còn giáo viên loay hoay với nhiều bộ sách khác nhau. Với Nghị quyết 71, khung chương trình thống nhất sẽ tạo ra “mặt bằng chung” để học sinh cả nước được tiếp cận cùng một chuẩn kiến thức, trong khi cơ chế linh hoạt cho phép địa phương đưa vào những nội dung phản ánh lịch sử, văn hóa, sản xuất của địa phương mình.

Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Hải Phòng
Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Tưởng đoàn ĐBQH chuyên trách thành phố Hải Phòng nhấn mạnh: “Tôi cho rằng sau một thời gian triển khai “một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa,” chúng ta đã có những trải nghiệm và rút ra nhiều bài học quý báu. Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ bất cập, nhất là sự chênh lệch, thiếu thống nhất trong thực tiễn giảng dạy. Nghị quyết 71-NQ/TW đưa ra giải pháp “một bộ sách thống nhất toàn quốc” chính là nhằm khắc phục tình trạng đó, đồng thời vẫn bảo đảm sự linh hoạt thông qua các phần mở để địa phương, nhà trường bổ sung nội dung phù hợp.”
Điểm nhấn thứ ba và cũng là đột phá lớn nhất chính là những chính sách chưa từng có trong lịch sử giáo dục nước ta: miễn học phí phổ thông, triển khai dạy học hai buổi/ngày miễn phí và xây dựng hệ thống trường học chất lượng cao ở biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là sự khẳng định rõ ràng rằng giáo dục là quyền của mọi công dân, chứ không phải là đặc quyền của những gia đình có điều kiện. Chính sách miễn học phí không chỉ giảm gánh nặng kinh tế cho phụ huynh mà còn khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm công bằng xã hội.

Ông Nguyễn Hồng Quân – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Hội Giáo dục chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Việt Nam
Với chính sách rất nhân văn và đáp ứng được nhu cầu thực tiễn này, Ông Nguyễn Hồng Quân, Chủ tịch Hội Giáo dục chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Việt Nam cho rằng: “Phổ cập dạy hai buổi/ngày miễn phí giúp học sinh vững kiến thức, giảm chi phí, hạn chế học thêm, đồng thời gắn giáo dục với chăm sóc sức khỏe. Việc tăng phụ cấp cho giáo viên, nhất là ở vùng khó khăn, sẽ tạo động lực cống hiến. Đây là chính sách đột phá, lâu dài, hướng tới nền giáo dục công bằng và chất lượng.”

Ông Phạm Tất Thắng, Uy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
Đồng quan điểm này, Ông Phạm Tất Thắng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương nhận định: “Khi Nhà nước đứng ra lo trọn vẹn chi phí học tập cho trẻ em, chúng ta mới có thể nói đến bình đẳng cơ hội. Đây là bước tiến dài trên con đường hiện thực hóa quyền được học tập của mọi trẻ em Việt Nam.”
Không chỉ vậy, mô hình dạy học hai buổi/ngày còn mở ra cánh cửa để giáo dục chuyển từ “dạy chữ” sang “dạy người”. Thực tiễn ở Lào Cai cho thấy, sau 5 năm thí điểm mô hình này, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm tới 40%, còn chỉ số BMI đạt chuẩn tăng 12%. Đây là minh chứng rõ ràng cho giá trị của việc chăm lo giáo dục toàn diện, thay vì chạy theo thành tích điểm số.
Đặc biệt, việc xây dựng các trường học chất lượng cao ở biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số cho thấy một tư tưởng nhân văn xuyên suốt: “không để bất kỳ trẻ em nào bị bỏ lại phía sau”.
Có thể nói, ba điểm đột phá của Nghị quyết 71 không chỉ giải quyết những tồn tại kéo dài nhiều năm của ngành giáo dục, mà còn khẳng định một tư tưởng nhất quán: đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho phát triển bền vững.
Từ Nghị quyết đến cuôc sống?
Nghị quyết 71 mở ra một lộ trình đầy kỳ vọng, nhưng câu hỏi lớn nhất vẫn là: làm thế nào để biến những định hướng đó thành kết quả cụ thể, đi vào từng lớp học, từng ngôi trường, từng gia đình? Các chuyên gia cho rằng, cần triển khai đồng bộ ít nhất ba nhóm giải pháp mang tính nền tảng – vừa trước mắt, vừa lâu dài.
Thứ nhất, coi đầu tư cho giáo dục – sức khỏe học đường là một phần của chiến lược phát triển quốc gia.
Muốn Nghị quyết 71 đi vào cuộc sống, ngân sách nhà nước cần được ưu tiên, nhưng chỉ ngân sách thôi thì chưa đủ. Chúng ta đang chứng kiến nhiều mô hình xã hội hóa thành công: doanh nghiệp tài trợ sữa học đường, tổ chức phi chính phủ hỗ trợ dinh dưỡng cho trẻ vùng cao, hay cộng đồng phụ huynh góp sức xây dựng sân chơi, thư viện cho con em mình. Những nguồn lực đa dạng đó nếu được khuyến khích và quản lý minh bạch sẽ tạo ra sức bật mạnh mẽ.

PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhấn mạnh: “Muốn cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng học đường, phải coi đây là trách nhiệm chung. Nhà nước hỗ trợ chính sách, nhưng doanh nghiệp, phụ huynh, cộng đồng phải đồng hành thì mới thành công.”
Bệnh cạnh đó, PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu đặc biệt lưu ý đó là cần phải xây dựng cơ chế để các bên cùng thấy lợi ích khi tham gia. Doanh nghiệp có thể khấu trừ thuế khi đầu tư cho giáo dục; phụ huynh được bảo đảm con em học tập trong môi trường an toàn, lành mạnh; cộng đồng địa phương gắn kết và phát triển bền vững.
Thứ hai, cải cách căn bản việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên.
Một chính sách tốt sẽ khó thành công nếu thiếu đội ngũ giáo viên đủ năng lực và tâm huyết. Các thầy cô không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn đóng vai trò người hướng dẫn tâm lý, người bảo vệ sức khỏe tinh thần và thể chất cho học sinh. Vì vậy, việc cải cách chương trình đào tạo sư phạm là cấp bách. Thay vì thiên về lý thuyết hàn lâm, các trường sư phạm cần đưa vào nhiều học phần thực hành. Đồng thời, chính sách đãi ngộ cũng phải đi đôi. Khi giáo viên được đảm bảo đời sống, có cơ hội phát triển nghề nghiệp và được tôn vinh xứng đáng, họ mới toàn tâm toàn ý với công việc gieo trồng tri thức.

Ứng dụng công nghệ vào công tác dạy học
Thứ ba, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong giáo dục.
Chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện lắp đặt thêm máy tính hay đường truyền internet, mà phải là sự thay đổi toàn diện cách dạy và học. Học sinh ở vùng sâu vùng xa hoàn toàn có thể tiếp cận cùng một kho học liệu số như học sinh thành phố, nếu hạ tầng và nền tảng được đầu tư đồng bộ. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ giáo viên chấm bài, phân tích tiến bộ của từng học sinh, hay thậm chí đưa ra khuyến nghị cá nhân hóa lộ trình học tập. Ứng dụng công nghệ còn giúp theo dõi sức khỏe học sinh theo thời gian thực: từ chỉ số dinh dưỡng, cân nặng, chiều cao, đến ghi nhận tâm trạng qua các bài khảo sát nhanh.

Bà Phạm Khánh Phong Lan, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh
Bà Phạm Khánh Phong Lan, Đoàn ĐBQH TP. Hồ Chí Minh nhận định: “Chuyển đổi số không phải chuyện xa vời, mà chính là chìa khóa để thu hẹp khoảng cách thành thị – nông thôn, mang lại công bằng trong tiếp cận giáo dục.”
Cũng theo bà Phạm Khánh Phong Lan, tất cả những giải pháp này chỉ thực sự hiệu quả khi được đặt trong một cơ chế điều phối rõ ràng và quyết liệt. Chính phủ cần một kế hoạch hành động cụ thể, gắn trách nhiệm cho từng bộ ngành, từng địa phương. Quốc hội cần cơ chế giám sát để các cam kết không bị bỏ ngỏ. Và hơn hết, toàn xã hội phải coi sự nghiệp giáo dục – sức khỏe học đường là “công việc của chính mình”, không thể phó thác cho riêng ngành giáo dục.
Có thể nói, Nghị quyết 71 đã vẽ nên một “bản đồ tương lai” đầy khát vọng cho nền giáo dục Việt Nam. Nhưng để đi đến đích, không thể chỉ dựa vào những khẩu hiệu đẹp. Cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự sáng tạo của giáo viên, sự đồng hành của doanh nghiệp, sự gắn kết của cộng đồng. Khi đó, mục tiêu “nuôi dưỡng thế hệ trẻ Việt Nam phát triển toàn diện cả về trí tuệ, thể chất, tinh thần và nhân cách” mới thực sự trở thành hiện thực – bền vững và lâu dài.
Trần Tiến









Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu