Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Khơi thông nguồn lực công nghệ cho hợp tác xã vùng cao tỉnh Khánh Hòa: Cơ hội, thách thức và định hướng phát triển.

Khoa học - công nghệ và chuyển đổi số chính là nền tảng cho sự phát triển bền vững, chính sự đổi mới sáng tạo, đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để phát triển Kinh tế xã hội vùng đồng bào dân thộc thiểu số và miền núi

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ cho hợp tác xã miền núi Việt Nam trở thành một trong những quốc gia tiên phong trong việc phát triển và ứng dụng công nghệ số, đổi mới sáng tạo, đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực chính để phát triển kinh tế-xã hội.

Đối với khu vực kinh tế tập thể, đặc biệt là các hợp tác xã miền núi, việc ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có ý nghĩa sống còn. Đó là con đường ngắn nhất để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tối ưu hóa quy trình sản xuất và kinh doanh.

Tỉnh Khánh Hòa hiện có 371 hợp tác xã, 1 Liên hiệp hợp tác xã, 7 quỹ tín dụng nhân dân và 1.012 tổ hợp tác hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng và tiểu thủ công nghiệp. Nhiều hợp tác xã đã chủ động ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong sản xuất, đưa sản phẩm nông sản đặc sản của tỉnh lên sàn thương mại điện tử, kết nối trực tiếp với người tiêu dùng, mở rộng thị trường ngoài tỉnh và hướng đến xuất khẩu. Tuy nhiên, quá trình thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho hợp tác xã và thành viên dân tộc thiểu số và miền núi vẫn còn đối mặt với muôn vàn thách thức như về nhận thức.

Ông Trịnh Minh Hoàng, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu tại hội nghị (Ảnh: Thanh Huy)

Ông Trịnh Minh Hoàng, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu tại hội nghị (Ảnh: Thanh Huy)

Ông Vạn Quan Phú Đoan, Giám đốc hợp tác xã sản xuất thương mại và dịch vụ gốm Chăm Bàu Trúc cho biết, làng gốm Bàu Trúc là một trong những làng gốm cổ xưa nhất khu vực Đông Nam Á, nghệ thuật làm gốm người Chăm được UNESCO vinh danh là Di sản văn hoá phi vật thể thế giới. “Các sản phẩm gốm từ khâu lấy đất, chế tác đi đến nung và hoàn thành sản phẩm tất cả đều thủ công, điểm đăc trưng nhất của gốm Chăm Bàu Trúc lấy màu gốm không phải từ men mà lấy màu từ lá cây, khói nung”. Hiện nay, hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc đạt được doanh thu gần 1 tỷ/năm, sản phẩm bán ra chủ yếu là trực tiếp theo các tour du lịch, đan xen thêm trên facebook, tiktok. Là một hợp tác xã người dân tộc Chăm đang còn rất hạn chế về công nghệ cũng như chuyển đổi số, ông Đoan mong muốn được sự hỗ trợ từ các doanh nghiêp công nghệ và lữ hành, đưa khách du lịch đến với làng nghề để trải nghiệm về sản phẩm Gốm, giao lưu văn hoá của đồng bào người Chăm đến du khách và bạn bè trong nước và quốc tế.

Toàn cảnh hội nghị Ứng dụng Khoa học Công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyể đổi số cho hợp tác xã và thành viên đồng bào dân tộc thiểu số (Ảnh: Thanh Huy)

Toàn cảnh hội nghị Ứng dụng Khoa học Công nghệ đổi mới sáng tạo và chuyể đổi số cho hợp tác xã và thành viên đồng bào dân tộc thiểu số (Ảnh: Thanh Huy)

Ông Trần Công Đức, Chủ nhiệm hợp tác xã trầm hương Vạn Thắng chia sẻ, hiện tại hợp tác xã có 7 thành viên và lượng nhân công cố định trên dưới 20 người, công nhân thời vụ khoảng 20 người tùy vào từng thời điểm và nguồn hàng, các sản phẩm trầm hương của cơ sở được bán ra thị trường chủ yếu tại cơ sở sản xuất, một phần nhỏ được bán ra trên facebook và zalo nhưng vẫn mang tính đơn lẻ và truyền thống. Ông Đức mong muốn kết nối đến với các doanh nghiệp, công ty có nhu cầu liên kết để đẩy mạnh lượng hàng tiêu thụ và giá cả cạnh tranh, đặc biệt là giải quyết được nguồn lao động tại chỗ, tạo ra nguồn thu nhập đều đặn hàng tháng cho người dân. Để hợp tác xã và thành viên dân tộc thiểu số, miền núi vượt qua khó khăn, nắm bắt cơ hội để phát triển, cần có chính sách đủ mạnh về nhân lực, tài chính, cơ chế chuyển giao công nghệ, xây dựng mối liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp và các tổ chức khoa học - công nghệ nhằm thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn, nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã, tổ hợp tác trên địa bàn.

Ông Trịnh Minh Hoàng, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa cho biết, trong lĩnh vực hợp tác xã và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, Nghị quyết số 57 càng có ý nghĩa đặc biệt khi đất nước đang phải đối mặt với thách thức từ biến đổi khí hậu, yêu cầu tăng trưởng xanh và mục tiêu phát thải thấp. Để khoa học và công nghệ trở thành đòn bẩy cho sự phát triển trong giai đoạn mới cần huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, ngân sách nhà nước đóng vai trò hỗ trợ chương trình, đề án và nhiệm vụ khoa học-công nghệ phù hợp với lợi thế của địa phương.

“Muốn thay đổi cục diện, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, đồng thời bảo vệ môi trường sống cho hôm nay và các thế hệ sau, chúng ta buộc phải đổi mới tư duy, đổi mới cách làm. Khoa học - công nghệ và chuyển đổi số chính là nền tảng cho sự phát triển bền vững” Ông Hoàng nhấn mạnh.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Trịnh Minh Hoàng thăm các gian hàng nông nghiệp sạch OCOP (Ảnh: Thanh Huy)

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Trịnh Minh Hoàng thăm các gian hàng nông nghiệp sạch OCOP (Ảnh: Thanh Huy)

 

Ông Phạm Hồng Thái, Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam khẳng định, trong kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là xu thế tất yếu mà đã trở thành yếu tố quyết định sự phát triển vượt bậc của mỗi quốc gia. Vì vậy, đổi mới sáng tạo, đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để phát triển Kinh tế xã hội vùng đồng bào dân thộc thiểu số và miền núi là việc làm cấp thiết hiện nay. Việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ cho các hợp tác xã miền núi không chỉ là giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp phần quan trọng vào việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững tại tỉnh Khánh Hòa.

Các sản phẩm gốm do Hợp tác xã sản xuất thương mại và dịch vụ gốm Chăm Bàu Trúc sản xuất (Ảnh Thanh Huy)

Các sản phẩm gốm do Hợp tác xã sản xuất thương mại và dịch vụ gốm Chăm Bàu Trúc sản xuất (Ảnh Thanh Huy)

Tính đến ngày 30/6/2025, cả nước có 34.848 hợp tác xã, 147 Liên hiệp hợp tác xã và 72.747 tổ hợp tác, thu hút hơn 6,17 triệu thành viên, tuy nhiên các hợp tác xã vẫn đối mặt với 5 khó khăn lớn: Hạn chế về tài chính, hạ tầng công nghệ, năng lực quản lý, chiến lược phát triển và khả năng tiếp cận thị trường. Hiện mức độ chuyển đổi số của các hợp tác xã cả nước đạt trung bình 32%. Trong đó, 13,6% hợp tác xã đã hoàn tất chuyển đổi số, 50% hợp tác xã đang triển khai và 36,4% hợp tác xã chưa thực hiện chuyển đổi số. Để tháo gỡ, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đề xuất thiết lập các chương trình hỗ trợ tài chính dài hạn từ Chính phủ, đơn giản hóa thủ tục vay vốn, mở rộng kết nối với các nguồn vốn tư nhân và quốc tế.

Thanh Huy