Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Đại Học Tôn Đức Thắng xứng đáng được phong tặng danh hiệu Anh Hùng Lao Động

Ngày 18/8, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã có công văn gửi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Bộ Giáo dục & Đào tạo để đề nghị xem xét trình cấp có thẩm quyền phong tặng Danh hiệu Anh hùng lao động cho Đại học Tôn Đức Thắng.

Đại học Tôn Đức Thắng nằm trong Top 800 trường đại học tốt nhất thế giới(Theo Tổ chức xếp hạng đại học thế giới qua thành tựu học thuật (University Ranking by Academic Performance: URAP))

Phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc trao đổi với Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, hiện đang công tác tại Đại học New South Wales và là người Việt đầu tiên trở thành Viện sĩ Viện hàn lâm y học Australia.

Phóng viên: Hiện nay, nhiều trường đại học phải hợp tác nghiên cứu khoa học để xây dựng các nhóm hay labo nghiên cứu mạnh. Dĩ nhiên nhiều người trong nhóm không phải là giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu (full time) của nhà trường. Giáo sư đánh giá vấn đề này như thế nào? Việc làm này có gì sai trái, đáng phải phê phán không?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Theo tôi thì không có gì sai trái trong việc lập labo / nhóm nghiên cứu ở trường mà nhà khoa học không có biên chế cơ hữu. Xu hướng chung trong khoa học hiện nay là hợp tác nghiên cứu. Hợp tác có thể diễn ra cấp nội bộ trường, cấp quốc gia, và cấp liên quốc gia.

Ở Trung Quốc, có hàng loạt nhà khoa học gốc Hoa ở Mĩ về nước thành lập các labo nghiên cứu, và họ được chính quyền Trung Quốc đầu tư để nghiên cứu rất thành công. Tôi có vài bạn gốc Hoa ở Úc và Mĩ, họ bỏ ra chừng 1-2 tháng mỗi năm ở labo bên Trung Quốc. Những labo đó là những trung tâm thu hút người có tài từ nước ngoài về phục vụ quê hương.

Trường Đại học Tôn Đức Thắng cũng làm như vậy, nhưng trễ hơn so với các đại học Trung Quốc.

Tôi cũng có một labo nghiên cứu cơ xương ở Trường Đại học Tôn Đức Thắng (dù tôi không phải là giảng viên cơ hữu của Trường) và đã góp phần nâng cao công bố khoa học cho Việt Nam

Thật ra, những công bố do labo tôi ở Việt Nam cũng được các đại học bên Úc chia sẻ (dù họ chẳng có tài trợ đồng nào) vì tôi giữ các chức vụ nghiên cứu ở bên Úc. Tuy nhiên, tôi nghĩ hình thức hợp tác như thế là rất có lợi cho Việt Nam, vì đó là cơ chế thiết thực nhất để thu hút các chuyên gia gốc Việt ở nước ngoài.

Ở môi trường học thuật như Úc, một trường đại học muốn có nhiều bài báo khoa học thì họ có phải hợp tác nghiên cứu, hay mời visiting researcher (dạng như giảng viên thỉnh giảng bên giảng dạy) không, thưa giáo sư?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Rất nhiều (có thể hơn 50%) các bài báo của các đại học Úc là do hợp tác trong và ngoài đại học. Ở Úc, có nhiều nhà khoa học thuộc biên chế của các viện nghiên cứu, bệnh viện, thậm chí công ti kĩ nghệ có những chức danh kiêm nhiệm (tiếng Anh là "adjunct" hay "conjoint") hay thỉnh giảng ("visiting professor").

Với chức danh kiêm nhiệm, họ có quyền tuyển nghiên cứu sinh và sử dụng tài nguyên (thư viện, internet, email) của trường đại học.

Trường đại học không trả lương cho các nhà khoa học này. Trường cũng không tài trợ cho họ nghiên cứu. Nhưng trường đại học có tên trong tất cả bài báo mà nhà khoa học công bố.

Do đó, có tác giả dù chỉ có một biên chế của một nơi, nhưng có nhiều địa chỉ trên bài báo khoa học mà họ không có biên chế. Điều này tôi thấy đã trở thành gần như là một qui ước chung mà cộng đồng khoa học chấp nhận.

Vừa qua, dư luận tính toán ra rằng, công bố quốc tế của Trường Đại học Tôn Đức Thắng chiếm đến 28% (hơn ¼) của cả nước. Giáo sư đánh giá gì về công tác nghiên cứu khoa học cũng như chính sách thu hút nhân tài của đại học này?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Tôi nghĩ trong quá khứ Việt Nam đã có nhiều chính sách thu hút các nhà khoa học ở nước ngoài về công tác hay hợp tác nghiên cứu ở trong nước. Nhưng không rõ có bao nhiêu người đã về.